Văn hóa tinh thần của dân tộc Mông

Thứ hai, 21/01/2013

Là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Mông (Hmôngz) có hơn 80 vạn người, đứng hàng thứ 8, chiếm 1% so với dân số chung của cả nước. Dân tộc Mông có 5 ngành chính là Mông Trắng (Hmôngz Đơưz); Mông Hoa (Hmôngz Lênhk); Mông Đỏ (Hmôngz Siz); Mông Đen (Mông Đuz) và Mông Xanh (Mông Sua). Dân tộc Mông cư trú trên địa bàn 16 tỉnh trong cả nước, trong đó 6 tỉnh có đông người Mông cư trú nhất là: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng và Điện Biên. Còn lại hơn 10 tỉnh khác như: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Gia Lai, Lâm Đồng và Lạng Sơn đều có cư dân Mông.

 

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao.

 

Do cuộc sống phải nương tựa vào rừng núi để tồn tại, con người luôn bị thiên nhiên chi phối. Trước vũ trụ bao la và muôn vàn hiện tượng tự nhiên, cũng như nhiều dân tộc khác, người Mông cũng không thể giải thích thế giới bằng tư duy khoa học. Vì thế, trong sâu thẳm tâm thức của họ thì thế giới này thuộc về các thần linh cai quản. Quan niệm vạn vật có hồn rất phổ biến trong người Mông. Theo người Mông con người có ba hồn: Ở đỉnh đầu, ngực và rốn. Ba hồn này liên quan đến sức khỏe và sinh mạng của con người. Nếu một trong ba hồn bỏ đi chơi thì con người sẽ bị ốm và phải tổ chức gọi hồn về. Nếu hồn không về thì tính mạng của con người sẽ gặp nguy hiểm Vì vậy, họ tin rằng khi con người chết đều biến thành ma; khi con người chết thì hồn ma sẽ được về với tổ tiên và lúc này hồn ma con người sẽ tồn tại vĩnh viễn nên chết chưa phải là hết mà là sự hóa kiếp. Quan niệm này đã thể hiện rất rõ trong văn học dân gian Mông.

 

Bên cạnh quan niệm về hồn của người Mông họ tin rằng có một số loài động thực vật cũng có hồn như: Cây lúa, cây ngô, cây lanh, con hổ, con trâu, các loài vật càng đặc biệt thì hồn càng đáng sợ.

 

Tín ngưỡng “Uống nước nhớ nguồn” – tức tục thờ cúng tổ tiên của người Mông cũng khác với người Kinh. Tùy từng dòng họ, trong nhà có hoặc không có bàn thờ. Họ thường dùng 3 ống tre để cắm hương (ống giữa thờ tổ tiên, ống bên phải thờ thần trông coi việc gia đình, ống bên trái thờ thần chăm sóc sức khỏe trong gia đình), phía trên bàn thờ có dán giấy bản lên tường – thờ 3 đời thì dán 3 hàng, 5 đời thì dán 5 hàng. Người Mông không thờ cúng thổ công trong nhà mà đem muôi cơm, chén rượu ra ngoài cửa chính cúng rồi vẩy cơm tưới rượu lên đó – nghĩa là thổ công, thổ địa được thờ ở bên ngoài nhà.

 

Xét các nét văn hóa tín ngưỡng, tâm linh biểu hiện qua đời sống có thể thấy người Mông chịu ảnh hưởng của các tôn giáo như Nho, Phật, Lão từ xa xưa, nhưng có thể khẳng định rằng người Mông chỉ chịu ảnh hưởng chứ chưa có tôn giáo và chưa hề theo một tôn giáo nào.

 

Dân tộc Mông là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong quá trình lịch sử họ đã sáng tạo nên một nền văn hóa đặc sắc thể hiện sự thích ứng với điều kiện khu vực cư trú của dân tộc mình.

 

Tết của người Mông xưa kia gần trùng với tết dương lịch và người Mông ăn theo tết này. Ngày nay, do cuộc sống xen kẽ với nhiều dân tộc khác, vì vậy ngày nay đồng bào Mông phần lớn đã ăn tết âm lịch (Tết Nguyên đán). Tết là dịp để nghỉ ngơi sau một năm lao động vất vả, vừa là dịp để những người thân đi xa lâu ngày về đoàn tụ. Ngày tết còn là dịp để mọi người làm trọn nghĩa vụ với đồng tộc, gia đình, tổ tiên.

 

 
Bữa cơm kết thúc đón năm mới của người Mông - ảnh: Nguyễn Huỳnh Mai

 

Bên cạnh tết Nguyên Đán, dân tộc Mông còn có nhiều ngày lễ tết khác, như: Rằm tháng Giêng (gọi là Đại tết), tết mùng 3 tháng 3, tết tháng 5 (5/5), rằm tháng 7… Vào những ngày này, bà con nghỉ ngơi, ăn uống, cúng tổ tiên và đi thăm viếng nhau.

 

Ngoài những ngày lễ tết trên, trong đời sống của đồng bào Mông họ đặc biệt thích “Hội chơi đồi hay hội chơi núi mùa xuân” mà tiếng Mông gọi là “Gẩu tào”. Đây là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng mà bên cạnh phần lễ, phần hội bộc lộ rõ bản sắc văn hóa dân tộc qua các sinh hoạt cộng đồng. Đây là lễ hội tiêu biểu nhất của đồng bào Mông, với mục đích là cúng tạ trời đất đã ban cho thôn bản, dòng họ, gia đình sức khỏe. Lễ hội được tổ chức vào mùa xuân hay những dịp nông nhàn do một một gia đình hay một làng chủ trì. Ở phần lễ, được bắt đầu bằng lễ dựng cây nêu, mâm lễ và các bài cúng. Sau khi phần lễ kết thúc là bắt đầu phần hội. Phần này được tổ chức với nhiều trò chơi dân gian, như: Đánh yến, đấu võ, bắn nỏ…, ngoài ra còn có những trò vui mang tính nghệ thuật như: Múa khèn, thổi sáo, thi hát đối đáp… Đây là dịp để thanh niên nam nữ trổ tài và cũng chính là nơi họ gặp gỡ, tâm sự và tìm hạnh phúc cho mình.

 

 
Múa khèn của người Mông

 

“Gẩu tào” là một lễ hội lớn, một sinh hoạt văn hoá đặc sắc với đủ loại hình văn hoá nghệ thuật dân gian, hội Gầu Tào thực sự hẫp dẫn. Từ dụng ý ban đầu là lễ tạ ơn chúc tụng con đàn cháu đống, mang màu sắc tôn giáo, Gẩu Tào trở thành lễ hội trổ tài và giao duyên của nam nữ thanh niên Mông.

 

Lễ hội Gẩu Tào còn là một phương tiện để củng cố phát triển mối quan hệ giữa các cá nhân, giữa các gia đình hay các cộng đồng làng bản để thắt chặt tình đoàn kết. Lễ hội góp phần làm cho diện mạo của đời sống văn hoá Mông thêm sinh động, đa dạng và là nguồn lực thúc đẩy tinh thần dân tộc Mông nói riêng và tinh thần nhân dân các dân tộc vùng cao nói chung.

 

Dân tộc Mông là một dân tộc rất yêu văn nghệ. Kho tàng văn hóa dân gian, truyện cổ, tục ngữ ,ca dao của đồng bào Mông rất đồ sộ, phản ánh toàn diện đời sống vật chất, tinh thần. Vượt lên tất cả là niềm lạc quan yêu cuộc sống. Cũng như bao dân tộc anh em khác, tục ngữ Mông là kho tàng tri thức về kinh nghiệm sống của đồng bào trong lịch sử. Tập trung trên 3 bình diện phản ánh kinh nghiệm sản xuất, các mối quan hệ trong xã hội, lối sống cùng những ứng xử của đồng bào. Đồng bào thường nói “muốn ăn thì hỏi 2 tay” hoặc để đấu tranh với thiên nhiên, đã có nhiều câu tục ngữ chứng minh cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết:

 

“Một chân đứng không vững

 

Một tay vỗ không vang”

 

Và đoàn kết đã trở thành một lẽ sống ăn sâu vào tiềm thức:

 

“Có nước tất cả cùng đổ

 

Có tiền tất cả cùng tiêu”

 

Do sống ở những vùng núi cao gần thiên nhiên, các hình thức nghệ thuật của người Mông có những đặc trưng riêng. Trong cuộc sống lao động vất vả, họ tự sáng tạo ra các loại nhạc cụ tuy đơn giản nhưng âm thanh lại quyến rũ lòng người, tiểu biểu như: Khèn trúc – Đây là một loại nhạc cụ đặc trưng, tiêu biểu và gắn bó mật thiết với đồng bào Mông. Khèn thường được dùng trong đám ma, vì tiếng khèn lúc này như nói hộ lòng thương tiếc vô hạn của người sống đối với người đã khuất. Ngoài ra, người ta có thể thồi khèn trong các hoàn cảnh: hội hè, đi đường, đi chợ… những lúc này người ta kết hợp tiếng khèn với các động tác khác, qua đó đã có rất nhiều cô gái Mông nghe tiếng khèn mà đem lòng yêu thương người thổi khèn. Ngoài khèn trúc ra, nhạc cụ dân ca của dân tộc Mông còn có Kèn lá, Nhị, Đàn tròn, Đàn môi, Sáo, Trống… Đi kèm với tiếng khèn là các điệu múa, tiêu biểu nhất là múa khèn. Đây là một điệu múa rất phong phú và đa dạng của dân tộc Mông. Xưa kia, múa khèn chỉ được dùng trong hoàn cảnh làm ma khô, ma tươi. Đám chơi, hội hè.. Nhưng ngày nay múa khèn biến tấu thành một thể loại biểu diễn văn nghệ. Ngoài múa khèn ra, người Mông còn có múa gây tiền dùng trong nghệ thuật biểu diễn và múa đuổi ma dùng trong các hoạt động tín ngưỡng.

 

Trong đời sống người Mông, tiếng hát giữ vị trí rất đặc biệt bởi đó là tiếng hát, là lời nhắn gửi tâm tình, là phương tiện biểu đạt quy ước, luật tục, lưu giữ truyền thống lịch sử dân tộc. Qua đó có thể thấy được bản sắc văn hóa của dân tộc Mông đã được biểu hiện toàn diện, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực, ở đâu cũng đậm nét văn hóa tộc người. Với nền văn hóa phong phú, đặc biệt là các lễ hội dân gian truyền thống của dân tộc, đây là một tài sản văn hóa phi vật thể quý báu của đồng bào mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Theo cuốn "Các dân tộc ở Hà Giang"

CÁC TIN KHÁC:

Không còn bài cũ hơn!
This text will be replaced
クロエ バッグ コーチバッグ GUCCI 財布