Dân tộc Lô Lô

Thứ hai, 06/08/2012

 

Tộc danh và ngôn ngữ:

 

Người Lô Lô được xếp vào nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến. Ngoài tộc danh chính thức là Lô Lô, đồng bao còn tự goi mình là Màn Dì, Mùn Dì hay Màn Chì. Trong các sách cổ của Việt Nam và Trung Quốc còn nhiều tên gọi  khác như Ô Man, LaLa, La Quả, Lạc Tô, Di Nhân…

 

Dân số, dân cư và lịch sử cư trú:

 

Người Lô Lô có mặt tại Việt Nam cách nay khoảng 500 năm, sống tập trung chủ yếu tại các huyện vùng cao phía  Bắc Hà Giang như Đồng Văn, Mèo Vạc và một số tại huyện Bảo Lạc, Cao Bằng. Dân số người  Lô Lô ở CVĐC là 1.373 người (Theo Niên giám thống kê 2009). Có hai nhóm là Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa đều tập trung tại Đồng Văn và Mèo Vạc. Giữa họ chỉ có sự khác biệt về trang phục là đáng kể.

 

Hoạt động sản xuất:

 

Những vùng người Lô Lô sinh sống hầu hết là núi đá, đất dốc, ruộng không nhiều. Cây trồng chính của người Lô Lô là lúa, ngô, tam giác mạch. Ngoài ra còn trồng xen kẽ bầu, bí, rau, đậu…

 

Ngoài trồng trọt họ còn nuôi nhiều gia súc, gia cầm để giải quyết sức kéo và nhu cầu thực phẩm thiết yếu. Ngành nghề thủ công ở người Lô Lô ít phát triển hơn so với các tộc người khác. Nhưng họ lại nổi tiếng bởi nghề may vá, thêu thùa. Những bộ trang phục nữ Lô Lô có thể coi là những sản phẩm độc nhất vô nhị trên vùng cực Bắc Hà Giang.

 

Sinh hoạt ăn, ở, nhà cửa, trang phục:

 

Bữa ăn phản ánh rất rõ tập quán sản xuất và hoàn cảnh kinh tế. Lương thực chính là mèm mén làm từ bột ngô đồ như những tộc người vùng cao khác.

 

Người Lô Lô còn tự chưng cất rượu từ ngô, dùng men lá tự chế. Cũng như nhiều cộng đồng cư dân khác, đối với người Lô Lô rượu là một loại đồ uống không thể thiếu trong những mâm cỗ cúng tế và cũng là thứ đồ dùng hàng ngày của đàn ông để chống mỏi mệt sau khi làm việc nặng nhọc hoặc khi tiếp đãi bạn bè, khách khứa. Ngoài ra còn phải kể đến một loại thuốc hút tự trồng. Đó là một loại thuốc lá, giống địa phương phổ biến trong nhiều cộng đồng dân cư khác nhau.

 

Trong cùng địa bàn sinh sống thì người Lô Lô thường ở các khu vực riêng thành từng làng xóm riêng mà các tộc người khác gọi là Lô Lô Chải (xóm hay làng Lô Lô). Mỗi xóm Lô Lô thường có từ năm, sáu hộ đến năm, sáu chục hộ.

 

Ngôi nhà của người Lô Lô thường là nhà đất trình tường 3 gian lợp ngói hoặc gianh. Kết cấu khung nhà dựa trên các vì kèo gỗ kết cấu xà ngang, xà dọc gác trên đầu 3 hàng cột, hai bộ vì làm thành gian giữa, hai bên hồi trốn cột, kèo gác lên tường đất.

 

Trang phục nam Lô Lô cũng giống như phần lớn các cộng đồng khác trong vùng: đó là chiếc quần chân què lá tọa, đũng và ống đều rộng; áo cánh bằng vải thô, vải bông hoặc lanh nhuồm chàm đen. Tuy nhiên đàn ông Lô Lô còn thường quấn một chiếc khăn  nhuộm đen trên đầu.

 

Bộ trang phục của phụ nữ Lô Lô thực là một kỳ công. Chất liệu thì vẫn là những loại vải sợi bông hoặc lanh tự dệt ở địa phương (ngày nay đồng bào còn dùng cả vải công nghiệp để may trang phục cổ truyền).

 

Trang phục Lô Lô Hoa

 

Đồ trang sức của phụ nữ Lô Lô gồm nhiều loại vòng tay, vòng cổ, dây truyền bằng bạc hoặc nhôm. Bình thường có thể họ không mang trang sức, nhưng trong những ngày lễ, tết họ thường mặc đầy đủ bộ trang phục và mang trang sức.

 

Ngành nghề cổ truyền đặc trưng:

 

Nói chung ngành nghề đáng kể nhất ở người Lô Lô chỉ có thể kể tới nghề may vá, thêu thùa của phụ nữ. Song nó lại rất đặc trưng, chỉ có thể thích dụng khi may vá các bộ nữ phục Lô Lô truyền thống.

 

Các di vật, cổ vật:

 

Người Lô Lô được biết đến như là chủ nhân của những chiếc trống đồng cổ xưa - một linh vật đặc biệt quan trọng đối với cộng đồng mình. Họ gìn giữ và bảo vệ như những báu vật  thiêng liêng nhất vào mỗi dịp trọng đại của đời sống cộng đồng.

 

Cưới hỏi:

 

Trước đây việc cưới hỏi trong cộng đồng Lô Lô thường là do cha mẹ sắp đặt, ngày nay thanh niên nam nữ được tự do tìm hiểu, nếu muốn lấy nhau thì về báo với gia đình. Nhà trai nhờ ông mối và hai bà mối, chọn ngày chắn mang lễ vật sang nhà gái dạm hỏi. Nếu được nhận lời thì nhà gái làm mâm cơm mời người mối ăn cùng bàn về lễ cưới.

 

Ma chay:

 

Khi trong nhà có người thân mất, họ tắm rửa thay quần áo cho người chết xong thì bắn ba phát súng báo hiệu (nếu là nam), bốn phát (nếu là nữ) sau đó cử người đi mời thầy cúng, thầy mo.

 

Tục lệ người Lô Lô, con cháu trong nhà phải chịu tang một năm. Con trai không được cưỡi ngựa, con gái không mang đồ trang sức. Sau khi chồng chết một năm người vợ được tái giá. Bố mẹ qua đời sau một năm con cái mới được lấy vợ, lấy chồng.

 

Các lễ tết, lễ hội:

 

Ngoài Tết cả (Nguyên đán) các làng Lô Lô ở Đồng Văn, Mèo Vạc còn có lễ cúng chung cho cả làng vào tháng bảy. Theo lệ cứ hai năm hoặc ba năm một lần, vào ngày 24 hoặc 25 tháng bảy người ta lại dâng lễ cúng thổ công, cúng cho tổ tiên, cúng các loại ma xa gần, cầu cho con người khỏe mạnh, mùa màng no ấm, có khi cúng tới 5 ngày liền. Ngày nay tết tháng bảy đã được đơn giản đi rất nhiều. Các ngày lễ tết khác trong năm mà các cộng đồng khác có làm như: 3/3; 5/5; 9/9… thì ở người Lô Lô có nơi làm, có nơi không.

 

Văn học, nghệ thuật dân gian:

 

Người Lô Lô có một di sản văn học dân gian truyền thống rất phong phú và độc đáo gồm truyện cổ, dân ca, tục ngữ, câu đố… Ngoài ra còn là những điệu dân vũ hết sức đặc sắc thường được thể hiện trong những dịp hội hè, đình đám và đặc biệt là trong những nghi lễ tang ma.

                                                                                                                    (Nguồn: Sưu tầm)

Lò Thị Thuận

CÁC TIN KHÁC:

Không còn bài cũ hơn!
This text will be replaced