Tộc danh và cư trú
Về tộc danh người Dao tự gọi mình là Kìm Miền, Kìm Mùn, các dân tộc hác còn gọi là Mán. Về ngôn ngữ, tiếng Dao thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao. Ở Hà Giang hiện có 4 nhóm Dao gồm: Dao đỏ (tức Dao Đại Bản hay Mán Tả Pan), Dao Tiền (tức Dao Tiểu Bản), Dao áo dài và Dao Quần trắng.
Theo các tài liệu nghiên cứu và tài liệu khảo sát khẳng định người Dao có nguồn gốc từ vùng miền Nam, Trung Quốc thiên di vào Việt Nam cách ngày nay khoảng 300 năm. Dân số người Dao trên khu vực CVĐC là 21.930 người (Theo Niên giám thống kê 2009)
Người Dao thường cư trú ở những vùng đồi núi cao, điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, nguồn sinh thủy không mấy thuận lợi, nhưng có thảm động, thực vật vùng rất đa dạng, phong phú.
Người Dao trên CVĐC
Hoạt động kinh tế
Người Dao có kinh nghiệm và kỹ thuật làm đất và canh tác rất giỏi, với các công cụ sản xuất hết sức thô sơ, đơn giản. Họ có các loại cây lương thực chính gồm: ngô, lúa, khoai, sắn… các loại cây công nghiệp như chè, quế, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Họ trồng các cây rau màu như rau họ đậu, rau cải, rau bí, dưa chuột… được trồng xen canh và nương ngô. Các loại rau thơm như hành, tỏi, ớt… Hoạt động kinh tế chăn nuôi khá phát triển, với vật nuôi như trâu, bò, ngựa, dê, lợn.
Người Dao vẫn thường được biết đến như một cộng đồng có một số nghề thủ công khá nổi tiếng trong vùng như dệt, nhuộm vải, đan lát đồ mây tre, rèn, làm giấy… Hiện nay do điều kiện kinh tế có những thay đổi đáng kể nên một số nghề không còn phổ biến nữa.
Cơ cấu bữa ăn của đồng bào gồm: Cơm (tẻ) + rau + thịt. Từ các loại ngũ cốc của người Dao biết chế biến nhiều món ăn khác nhau như: xôi đồ, cháo, các loại bánh. Đối với các món chế biến từ động vật họ có món đặc trưng như: thắng cố, sốt vang (từ thịt các con trâu, bò, dê…), tiết canh, thịt khô, mắm thịt lợn, thính, nộm cá, cá hấp, cá nấu chua,… Các món ăn chế biến từ thực vật đồng bào thường ăn xào, họ biết làm các món dưa muối từ các loại rau rất ngon. Đồng bào thường dùng các loại gia vị như rau thơm, tỏi, gừng, ớt… các loại hương liệu như thảo quả, hoa hồi, hạt dổi… đó là các loại gia vị được dùng thường xuyên trong các bữa ăn.
Dùng trong bữa ăn người Dao có các loại rượu như: rượu ngô, rượu sắn, rượu đao, rượu móc, rượu Pảng… nấu rất ngon và có bí quyết riêng. Phụ nữ và người già thường ăn trầu cau, đàn ông hút thuốc lào.
Nhà cửa
Người Dao trên khu vực CVĐC ở nhà đất trình tường, chủ yếu ở vùng Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc. Hướng nhà ở cửa người Dao ít chịu ảnh hưởng về hướng theo luật phong thủy mà chủ yếu đảm bảo các yêu cầu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như: gần nguồn nước, gần ruộng nương, nhà ở được dựng theo thế núi, lưng quay vào núi, phía trước hướng ra ruộng hoặc suối và chủ yếu theo hướng Nam, tránh hướng Tây.
Trang phục Dao áo dài
Trang phục
Trang phục nam: Áo vải lanh tự dệt, khâu bằng tay gồm 4 thân dài ngang thắt lưng, không cổ, tà lệch gài cúc bằng nhôm hoặc bạc về phía phải, tà áo thêu hoặc may các hoa văn màu đỏ, phía trên buông rủ, túi áo may phía dưới hai tà áo (thường không có túi).
Quần chân què, lá tọa, phía dưới gấu quần có nẹp đỏ khoảng 0,5cm, đường kính ống rộng khoảng 40 - 45cm, bụng rộng. Khi mặc cạp quần gấp thành nhiều nếp, dùng giây vải làm thắt lưng, dài tới mắt cá chân.
Vật dụng đi kèm gồm: khăn mầu đen cuốn thành kiểu khăn xếp quanh đầu. Người già thường quấn một chiếc khăn bằng vải lanh; mũ được may theo kiểu mũ nồi bằng vải mộc.
* Trang phục nữ: Trang phục nữ cổ truyền ở mỗi nhóm Dao có sự khác nhau. Kiểu dáng áo Dao đỏ gồm hai loại: Áo dài (váy), áo con. Kiểu dáng áo Dao Tiền không cổ, 4 thân, xẻ ngực, xẻ tà khoảng 30cm, gồm 5 cúc, 1 cúc bạc tô và 4 cúc bạc nhỏ, là dạng khuy, cúc giả. Trên áo người Dao Tiền nhất thiết phải thêu các hoa văn hình trám, hình con chó, hình nhện và hoa (thêu ở 2 bên phía sau) cũng là đặc điểm riêng của trang phục.
Cưới hỏi và ma chay
Cưới hỏi: Đối với người Dao trong hôn nhân ở một số nơi đến nay vẫn tồn tại kiểu hôn nhân áp đặt, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy và quan niệm môn đăng hộ đối vẫn hết sức được coi trọng. Cưới hỏi trải qua các bước: mai mối, ăn hỏi và cưới.
Ma chay: Quan niệm chung của cộng đồng và mang tính cổ truyền của người Dao về cái chết như là quy luật tự nhiên trong vòng đời của con người. Khi chết tức là hồn người rời bỏ xác để trở về Giang Châu đại diện - tức nơi phát tích của người Dao, ở đó họ cũng làm ăn sinh sống như người trên trần thế. Vì vậy con cháu phải có nghĩa vụ thờ cúng đối với những người đã chết (Gọi là Miến).
Các lễ hội:
* Lễ cấp sắc (quá tang)
Về nguồn gốc quan niệm của người ta cho rằng con trai người Dao chỉ thực sự trưởng thành khi trải qua lễ Cấp sắc. Sau lễ Cấp sắc, người con trai đó có thể tham gia vào các công việc hệ trọng của làng, được giúp việc cho thầy cúng, được cúng bái. Lễ Cấp sắc thường được tổ chức vào tháng 11, tháng 12 hoặc tháng Giêng hàng năm, vì đây là thời gian nhàn rỗi.
* Lễ hội đón xuân (Qúya Hiéng)
Nguồn gốc quan niệm và mục đích lễ thức: Chia tay năm cũ, cầu mong một năm mới an khang thịnh vượng. Lễ được tổ chức vào ngày 28/12 âm lịch hàng năm, tại mỗi gia đình. Các lễ vật gồm: gà, bánh chưng, cá, rượu… Những người tham gia đến cùng gia đình ăn cơm uống rượu và tham gia các trò chơi dân gian, khi đi phải tắm rửa thật sạch sẽ để tham gia trò nhảy lửa (pút tồng).
* Lễ hội cầu mưa (Ai song tro nhây), tổ chức vào mùng 2/2 âm lịch, tại gia đình được thôn bầu ra để tổ chức. Lễ vật do toàn thôn đóng góp, thành phần tham gia gồm 3 thầy cúng và toàn thôn bản. Mục đích ý nghĩa cầu mùa, cầu mưa thuận gió hòa để mùa màng tốt tươi, trong lễ có các trò chơi dân gian (hiện nay lễ này đã không còn tổ chức nữa).
* Lễ hội cầu mùa (Nám song ai song), tổ chức vào sáng 2/1 âm lịch, tại khu đất bằng phẳng hoặc ruộng của làng. Thành phần tham gia gồm thầy cúng và chủ hộ gia đình. Mục đích ý nghĩa cầu cho một năm mới có mùa màng tươi tốt, không có thiên tai bệnh dịch… Phần lễ cúng thần làng, Ngọc Hoàng… Phần hội là các trò chơi dân gian, ăn uống… (hiện nay lễ này đã không còn tổ chức nữa).
(Nguồn: Sưu tầm)