Dân tộc Cờ Lao

Thứ hai, 06/08/2012

Dân tộc Cờ Lao ở Hà Giang vốn có tiếng nói riêng và được xếp vào nhóm ngôn ngữ Ka - Đai, ngữ hệ Thái - Ka Đai. Trước kia, dân tộc Cờ Lao sử dụng ngôn ngữ riêng của mình. Hiện nay còn rất ít người trong cộng đồng nói được tiếng Cờ Lao, mà ngôn ngữ dùng giao tiếp hàng ngày chủ yếu là tiếng Mông. Chỉ thỉnh thoảng giao tiếp trong phạm vi gia đình họ còn sử dụng tiếng mẹ đẻ.

 

Tộc danh và cư trú

 

Về tộc danh thì người Cờ Lao tự gọi mình là Thư ngay từ những ngày đầu di cư sang Việt Nam, trong đó có ba ngành Thư khác nhau là Trắng, Đỏ và Xanh.

 

Người Cờ Lao cư trú chủ yếu ở huyện Hoàng Su Phì, Bắc Quang và Đồng Văn, họ sống xen kẽ với các dân tộc khác trong vùng. Người Cờ Lao ở khu vực CVĐC sinh sống chủ yếu ở xã Sính Lủng và xã Phố Là, huyện Đồng Văn. Hiện nay, có khoảng 1.136 người, (theo số liệu Niên giám thống kê 2009).

 

Trang phục phụ nữ Cờ Lao

 

Người Cờ Lao cư trú ở các sườn núi gần nguồn nước. Họ không sống quá cao như người Mông, cũng không sống thấp như người Tày. Trên sườn núi có thể vừa làm ruộng nước bằng ruộng bậc thang vừa trồng các loại cây có giá trị kinh tế và làm thuốc. Họ thường sống tập trung thành từng làng riêng, đặc biệt các gia đình cùng dòng họ thường sống gần nhau.

 

Làng bản của người Cờ Lao sống khá thuần nhất, họ thường sống tập trung trên các sườn đồi để thuận tiện cho việc canh tác ruộng nước và làm vườn rừng. Xóm bản của người Cờ Lao thường có quy mô nhỏ, họ ưa sống gần những người có cùng dòng họ.

 

Ngôi nhà người Cờ Lao có cấu trúc 3 gian hai chái, mái thấp, lợp bằng gianh hoặc vầu.

 

 Trang phục: Đàn ông Cờ Lao mặc quần như nhiều dân tộc vùng biên giới phía Bắc.  Phụ nữ Cờ Lao mặc áo dài đến đầu gối, 4 thân, tà xẻ hai bên hông, cổ đứng cài cúc bên phải. Phần trên ngực áo được trang trí bằng các vòng tròn trước và sau bằng những khoanh vải có nhiều màu sắc khác nhau. Hai ống tay áo được đắp bằng các khoanh vải nhiều màu.

 

Ngành nghề của người Cờ Lao đều mang tính phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như: đan lát, lấy thuốc nam, thêu thổ cẩm...

 

Ma chay và cưới hỏi

 

Cưới hỏi: Trước kia người Cờ Lao có chế độ hôn nhân “ngoại hôn dòng họ, nội hôn tộc người”, chỉ lấy người cùng tộc để bảo vệ, nhân rộng tộc người mình, đồng thời còn là nhu cầu phát triển dân số của cộng đồng mình trong sự so sánh với tộc người lân cận. Ngày nay, do có sự tác động của các thể chế Nhà nước, mở rộng giao lưu nên chế độ hôn nhân này ngày càng bị phá vỡ, người Cờ Lao đã lấy chồng, lấy vợ thuộc các cộng đồng khác. Quá trình hôn nhân của người Cờ Lao diễn ra nhiều bước và được tiến hành trong một thời gian dài. Từ lễ dạm hỏi, lễ hỏi, lễ giao lễ vật, lễ cưới và lại mặt có thể diễn ra trong vòng một năm.

 

Ma chay: Đám ma của người Cờ Lao tổ chức to trong vòng vài ngày, trước kia khoảng 7 ngày, ngày nay thực hiện nếp sống mới chỉ tổ chức trong vòng hai ngày. Tang ma chỉ được tiến hành cho những người chết hơn 3 tuổi.

 

Người Cờ Lao có 2 lễ là địa táng và lễ ma khô. Sau lễ địa táng, khi nào gia đình có điều kiện vật chất thì làm lễ ma khô cho người chết. Nhất thiết phải làm lễ này vì nếu không làm thì người chết không được thanh thản trở về với tổ tiên, họ sẽ về quấy nhiễu và làm phiền người sống. Người ta có thể làm gộp lễ ma khô cho nhiều người. 

 

Các lễ tết, lễ hội:

 

Các lễ hội của người Cờ Lao thường được tổ chức chung với các dân tộc  khác trong vùng như tết Nguyên Đán, rằm Tháng giêng, tết thanh minh, tết 6/6... Người Cờ Lao ở thôn Mã Chề, xã Sính Lủng, huyện Đồng Văn có lễ hội đáng lưu ý là lễ cúng Thần rừng vào ngày 9 tháng 9 hàng năm. Cả làng tổ chức lễ cúng Thần rừng trên khu rừng cổ thụ sau xóm. Mỗi hộ cử 1 đến 2 người đi cúng, không kể nam nữ. Dẫn đầu là thầy cúng của làng, lễ cúng mong Thần rừng phù hộ xóm làng, nhân dân khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt...

 

Người Cờ Lao xóm Mã Chề, xã Sính Lủng, huyện Đồng Văn mỗi khi tết đến còn chơi trò chơi gọi chổi, trò chơi này dành cho tất cả mọi người vào những ngày đầu xuân rỗi rãi. Khi chơi lấy 1 cái chổi cũ, vì mọi người quan niệm rằng chổi đã qua chơi gọi hồn thì không dùng được nữa. Trang trí chổi như 1 con người gồm: có thanh nứa làm tay, mũ làm đầu, quần áo mặc cho chổi.... sau đó thắp 1 cây hương, khi cây hương cháy gần hết thì bắt đầu hát bài đón xuân bằng tiếng Cờ Lao. Hát bài này cho đến khi cái chổi tự biết động đậy, đi lại và cúi chào mọi người thì có thể chuyển sang các bài hát khác. Trong khi mọi người hát cái chổi sẽ hoạt động như 1 con người cùng tham gia trong hội hát. Khi nào muốn kết thúc trò chơi thì dẹp đường cho chổi vào nhà và hát bài Tiễn Em. Bắt buộc phải có bài “Đón Xuân” để chổi đi lại và bài “Tiễn em” để tiễn chổi.

                                                                                                                              (Nguồn: Sưu tầm)

Lò Thị Thuận

CÁC TIN KHÁC:

Không còn bài cũ hơn!
This text will be replaced