Đến với Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang, hẳn du khách ai cũng biết đến mảnh đất Mèo Vạc gắn với địa danh “chợ tình Khau Vai”, phiên chợ “độc nhất vô nhị”. Nơi có miếu thiêng, người ta thường gọi là “miếu thờ tình yêu ”.
Truyền thuyết xưa kể rằng: Nơi đây có một gia đình nông dân nghèo dân tộc Nùng, có ba người con trai đang độ tuổi đôi mươi. Người con út tên là Chàng Ba. Chàng Ba đẹp trai, khôi ngô, tuấn tú, siêng năng chăm chỉ. Đặc biệt Chàng Ba có giọng hát hay và tài thổi sáo đã làm xiêu lòng biết bao cô gái.
Ở nhà tộc trưởng trong làng người Giáy có Nàng Út xinh đẹp đã đến tuổi cập kê xinh như một đóa hoa rừng. Nàng càng lớn càng đẹp như chim lửa vào mùa kết bạn. Qua tiếng sáo và các câu hát giao duyên của từng mùa trăng, Chàng Ba và Nàng Út đã đem lòng yêu thương nhau say đắm.
Thế nhưng từ bao đời nay tập tục hai tộc người này đã khác nhau, nên chàng trai người Nùng không được phép lấy cô gái người Giáy và ngược lại con gái người Giáy không được phép lấy con trai người Nùng. Mặc cho mọi lời cấm đoán, hai người nguyện thề yêu thương nhau. Trước mối tình của đôi bạn trẻ gia đình, họ hàng và hai dân tộc xảy ra những cuộc xô xát, chém giết lẫn nhau…
Thương cha mẹ, thương họ hàng và không muốn hai họ mang thù hận, nên hai người ghìm tình riêng lại để chia tay. Lúc chia tay đôi trai gái đã thề trước sự chứng giám của trời, đất là yêu thương nhau nhưng không có duyên chung sống với nhau nên phải chia lìa mỗi người một đường.
Họ hẹn ước mỗi năm đến ngày chia tay (tối 27/3 âm lịch) lại lên đèo Mây cùng nhau hát ca làn điệu giao duyên, kể cho nhau nghe những điều thầm kín được ấp ủ, cất giữ tận đáy lòng mình trong quãng thời gian một năm xa cách. Vào cái ngày cuối cùng của cuộc đời họ tìm đến với nhau dưới gốc cây rừng, trên hòn đá thề, ôm lấy nhau mà đi vào cõi vĩnh hằng cũng đúng vào ngày 27/3 âm lịch. Nơi họ khuất núi được dân bản dựng lên đôi miếu thờ, nay được gọi là Miếu Ông và Miếu Bà.
Từ chợ Khau Vai theo con đường bằng bê tông đi vào khe núi của khu rừng cấm hơn 100m về hướng Tây Bắc, có 2 ngôi miếu.
Miếu Ông nằm ở phía trên, tựa lưng vào núi, nhìn ra sông Nho Quế theo hướng chính Đông. Miếu được dựng bằng cột gỗ, kết cấu mái đơn giản, không có tường bao xung quanh, lợp ngói âm dương. Trong miếu đặt 1 pho tượng bằng đá.
Để đi đến miếu Bà phải qua một khe núi (suối cạn). Miếu Bà được dựng giáp vách đá, miếu gồm có một gian, không có vì kèo, có một mái lợp ngói âm dương. Trong miếu được chạm tượng Bà nổi vào phiến đá lớn.
Hai bên cạnh của phiến đá có chạm khắc chữ Hán với nội dung như sau: “Thành giai cổ vạn, Tu miếu an thần đinh xạ vượng, Tích Phật cầu tiên bảo bình an” nghĩa là: Thành đẹp muôn đời, Sửa miếu an thần cầu thịnh vượng, Tích Phật cầu tiên bảo vệ bình an.
Hàng năm cứ vào ngày 2 tháng 2 và ngày 2 tháng 8 âm lịch, nhân dân trong làng tổ chức lễ cúng tại miếu Ông, miếu Bà. Ngày 2 tháng 2 là lễ cúng cầu mùa, ngày 2 tháng 8 là lễ cúng lúa mới. Lễ vật gồm một con lợn khoảng 50kg được nhân dân trong làng góp tiền mua, đồng thời mỗi gia đình góp một con gà. Sau khi lễ cúng xong, dân làng cùng nhau tổ chức ăn uống ngay tại miếu. Người dân nơi đây cho rằng Miếu Ông, miếu Bà rất linh thiêng, những đôi trai gái yêu nhau có trắc trở đến khấn cầu đều linh nghiệm, được hạnh phúc; Vợ chồng hiếm muộn con cái cầu xin gặp nhiều may mắn.