Cây Khèn Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Thứ năm, 15/03/2012

Cây Khèn Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn đã trở nên thân thiết và có giá trị từ rất lâu trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Mông. Ngoài ý nghĩa đó cây Khèn Mông còn có giá trị mang nét văn hóa đặc trưng vùng miền.

 

Ngày nay chàng trai các dân tộc khác trên Cao nguyên đá Đồng Văn cũng thổi khèn điêu luyện không kém gì chàng trai Mông. Dù sau này cây Khèn Mông có được phát triển khác đi hoặc trở thành nét văn hóa của các dân tộc khác thì nguồn gốc và tinh hoa của cây Khèn Mông vẫn là của người Mông, vẫn được người Mông gìn giữ, truyền lại cho con cháu sau này.

 

Trong cuộc sống để nhận ra người đàn ông Mông đích thực được đánh giá qua ba yếu tố: “trên vai có cây khèn, đầu đội mũ nồi và tay xách lồng chim họa mi”.

 

Đã là chàng trai Mông thì đều phải học thổi khèn, những bài khèn đặc trưng cho từng dòng họ vẫn được lưu truyền đến ngày nay. Những ngón khèn điêu luyện thường được các dòng họ lưu giữ, coi đó là báu vật của dòng họ mình và chỉ được truyền cho con trai trong họ.

 

 

Từ xa xưa, khi người em biết kết hợp cả sáu ống trúc trong một cây khèn để thổi tiễn đưa năm người anh về với tổ tiên dòng họ thì cây khèn mang nhiều nghi lễ trong đám tang hơn các lễ hội vui chơi. Các bài khèn trong tang ma, cả trong ma khô và ma tươi vẫn được các thầy mo sử dụng. Trong mỗi dòng họ đều có thầy mo riêng, bởi chỉ có người trong họ mới hiểu tường tận về phong tục, tập quán của dòng họ mình mới biết các bí kíp thổi khèn của dòng họ và đủ uy tín để dẫn dắt người chết về với tổ tiên, báo cho tổ tiên nhận mặt người mới trong dòng họ.

 

Khi sáu ống trúc được kết hợp lại, người em khi thổi đã không gò bó trong âm điệu của ống trúc nhỏ nhất nữa mà đã biết kết hợp, sáng tạo trên hợp âm của cả năm người anh cộng lại nên khi tiếng khèn cất lên càng da diết, sâu lắng, lòng tiếc thương năm người anh được trải ra theo tiếng chim, dòng suối, núi rừng đại ngàn,... Dân bản khi nghe được tiếng khèn của người em đã cùng tới rất đông, không ít người ngậm ngùi trào nước mắt.

 

Người dân nhiều nơi trên Cao nguyên đá Đồng Văn biết làm khèn, nhưng làm khèn tốt nhất, âm khèn chuẩn nhất phải kể đến người dân ở xã Sủng Trái. Nguyên liệu dùng làm khèn là trúc đinh và thông đá. Những cây trúc được lựa chọn dóng phải thẳng và đều nhau. Sở dĩ Khèn Mông không dùng trúc thường do tính ổn định của loại trúc thường không cao, hay bị cong vênh, nứt nẻ, luồng âm chạy qua không đều.

 

Những người mua khèn về để treo thường không mấy chú ý đến âm thổi của cây khèn, chỉ cần hình dáng bên ngoài nhìn đẹp, ống trúc bóng thân khèn không nứt vỡ, các mối buộc đủ kín là được. Với những người thích thổi khèn thì sự chọn lựa đã cao hơn một bậc trong việc quan tâm đến âm thổi. Còn đối với những người thổi khèn thành nghệ nhân thì sự lựa chọn của họ đạt tới mức khó tính. Họ quý cây khèn của họ như chính sinh mạng của mình. Cây khèn lúc này giống như bảo kiếm của dũng sĩ thời xưa, đi đâu họ cũng mang theo.

 

Cây khèn được thổi trong đám ma thường được thắt thêm một dải lụa đỏ với ý nghĩa lúc này nó không còn là vật dụng của con người nữa mà nó là thần linh dẫn dắt linh hồn người chết lên được đến trời và tìm thấy tổ tiên dòng họ mình. Để biết cây khèn đã được thổi bao nhiêu đám ma chỉ cần đếm số dải lụa đỏ trên thân khèn là biết.

 

Cây khèn ngoài nghi lễ truyền thống là thổi trong tang ma ra, ngày nay cây khèn đã có mặt trong các ngày hội vui của gia đình, dòng họ, làng bản,... Âm thanh của cây khèn vốn não nề, thương xót giờ chuyển sang vui tươi đằm thắm, trữ tình sâu lắng, dạt dào những xúc cảm mới, người thổi gói ghém được tâm tư, tình cảm của mình.

 

 

Chuyện kể rằng có chàng trai nhà nghèo rất thích cô con gái thứ tám của chúa đất giàu có. Khi các chàng trai khác mang lễ vật đến cầu hôn nàng thì chàng cũng đi theo nhưng chỉ dám đứng bên ngoài bức tường đá nhìn vào trong. Đêm xuống, các chàng trai đến xin cầu hôn mang sáo ra thổi. Chàng trai nhà ngheo chẳng có sáo và cũng không có gì ngoài cây khèn người cha để lại khi qua đời. Chàng càng nghe những khúc thức rạo rực của tiếng sáo mà tủi cho phận mình. Chàng nghe thêm một lúc tâm sự trong lòng dâng lên ngập tràn. Không biết trời sui đất khiến thế nào mà chàng gỡ cây khèn treo trên vai xuống thổi. Cây khèn lúc ấy người ta chỉ thổi cho người chết nghe với những âm điệu buồn thương sầu thảm. Nhưng âm điệu chàng thổi bên ngoài tường đá hôm ấy thì khác hẳn, nó tình tứ, nó da diết, nó thôi thúc, nó mãnh liệt... Người con gái chúa đất nghe tiếng khèn lọt thỏm giữa trăm ngàn tiếng sáo nên chú ý hơn, khi nghe rồi bổng thấy lòng xao xuyến lạ kỳ. Sang đêm thứ ba nàng không còn ở yên trong phòng được nữa mà lẻn ra ngoài bức tường đá để tìm gặp người thổi khèn. Khi gặp rồi hai người đã tìm thấy tình yêu trong nhau và cùng trốn đến một vùng núi khác xa xôi kết thành chồng vợ.

 

Không biết có phải xuất phát từ câu chuyện này không mà trong dân gian có lời đồn rằng ai biết thổi khèn khéo lên Cao nguyên đá tha hồ mà chọn vợ, các cô gái tìm theo rất nhiều. Đó cũng chỉ là lời đồn thổi nhưng không phải không gốc tích lý do.

 

Từ đó trở đi cây khèn không còn bó hẹp trong các đám tang ma nữa mà đã được dùng nhiều hơn trong cuộc sống hàng ngày. Âm sắc của tiếng khèn mang nhiều nét giống với âm thanh của cuộc sống nên sự yêu mến dành cho Khèn Mông nhiều hơn các loại nhạc cụ khác.

 

Hàng năm vào dịp đầu xuân bà con trong các làng bản trên Cao nguyên đá lại tổ chức vui xuân và thổi khèn. Trong tất cả các lễ hội cây Khèn Mông luôn chiếm vị trí quan trọng ngoài âm thanh làm say đắm lòng người còn có tính cộng đồng rất cao. Tiêu biểu cho tính cộng đồng là múa đôi, thường là một nam một nữ, người nam vừa thổi khèn vừa múa, người nữ múa cùng và kèm ô trên tay e ấp duyên dáng trong xuân sớm. Nhiều đôi cùng múa ta được một hội khèn cộng đồng rất đặc sắc.

 

Đầu năm 2012 huyện Đồng Văn tổ chức Hội xuân Khèn Mông huyện Đồng Văn lần thứ nhất tại xã Sủng Là tập trung nghệ nhân của các xã Phố Cáo, Sủng Là, Sảng Tủng, Vần Chải, Sà Phìn và thị trấn Phố Bảng. Tuy là năm đầu tiên tổ chức Hội xuân nhưng cũng đã thu hút được số lượng nghệ nhân tham gia đông đảo. Nhân dân quanh vùng nô nức đến xem, khách du lịch đầu năm được thưởng thức món ăn tinh thần văn hóa tiêu biểu của người Mông cũng háo hức hẹn ngày trở lại.

 

Theo đánh giá của Ban tổ chức Hội xuân Khèn Mông năm 2012 là điểm khởi đầu cho các năm tiếp theo và xây dựng thành hoạt động thường niên tiêu biểu trong lòng Cao nguyên đá Đồng Văn. Qua đây có thể thấy giá trị to lớn của cây Khèn Mông không chỉ bó hẹp trong dòng họ, làng bản mà đã vươn ra đến hoạt động vùng, tương lai rất có thể sẽ đi xa hơn nữa đến năm châu bốn bể.


(Nguồn: http:dongvan.gov.vn)

Sưu tầm
This text will be replaced
クロエ バッグ コーチバッグ GUCCI 財布