Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới cực Bắc của Tổ Quốc. Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông giáp Cao Bằng, phía Nam giáp Tuyên Quang, phía Tây giáp Lào Cai. Trải qua nhiều lần thay đổi cương vực và tên gọi: Thời các Vua Hùng dựng nước, vùng đất này là địa bàn cư trú của cư dân bộ Tây Vu; đến Thế kỷ XI mang tên Châu Bình Nguyên; thời Lý thuộc phủ Phú Lương; thời Trần là trường Phú Linh; thời Lê đổi thành châu Vị Xuyên. Năm 1835 châu Vị Xuyên tách thành hai huyện là Vĩnh Tuy và Vị Xuyên. Năm 1842, tỉnh Tuyên Quang được thành lập với 3 hạt là Hà Giang, Bắc Quang, Tuyên Quang. Năm 1891, tỉnh Hà Giang được chính thức thành lập trên cơ sở sáp nhập 2 hạt là Hà Giang và Bắc Quang. Năm 1976 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang sáp nhập thành tỉnh Hà Tuyên. Năm 1991 tỉnh Hà Tuyên được tách thành 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Đến nay Hà Giang có 10 huyện, 1 Thành phố . Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800 - 1200 m so với mực nước biển. Nơi cao nhất là đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2.419m. Điểm đặc biệt về địa hình Hà Giang là đất không rộng lắm nhưng mật độ tập trung các ngọn núi cao khá dày đặc và được chia thành 3 vùng rõ rệt: vùng cao núi đá gồm các huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, vùng cao núi đất gồm các huyện: Xín Mần, Hoàng Su Phì và vùng thấp gồm các huyện: Vị Xuyên, Bắc Quang, Bắc Mê, Quang Bình và thị xã Hà Giang.
Với 23 tộc người cư trú, có những dân tộc ít người chỉ ở Hà Giang mới có hoặc có nhiều hơn các tỉnh khác như dân tộc Pà Thẻn, Lô Lô, La Chí, Pu Péo, Bố Y, Phù Lá... Mỗi dân tộc dù ít hay nhiều người đều có nét văn hoá truyền thống hết sức độc đáo, vừa có bản sắc riêng nhưng lại có cái chung của cộng đồng các dân tộc đó là tính thuần phác, thật thà. Hà Giang là mảnh đất có truyền thống văn hoá lâu đời, nơi giao thoa và cũng là nơi hội tụ, kết tinh bản sắc văn hoá các dân tộc anh em để tạo nên sắc thái văn hoá riêng của Hà Giang - một bộ phận cấu thành bản sắc văn hoá Việt Nam đa dạng mà thống nhất. Qua các cứ liệu khảo cổ học, các nhà khoa học đã xác định Hà Giang là một trong những địa điểm lưu giữ những dấu vết văn hoá thời tiền sử. Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã phát hiện 5 di chỉ có dấu vết của người nguyên thuỷ thuộc thời đại Đá cũ, đó là các địa điểm: Đồi Thông, Lò Gạch II ( Thành phố Hà Giang), Cán Tỷ (Quản Bạ), Bó Khiếu và Phó Bảng (Đồng Văn). Đặc biệt Hà Giang đã phát hiện 2 di tích hang động là nơi cư trú của người Việt cổ, phát hiện răng của người vượn ở Đán Cúm và Nà Chảo (huyện Bắc Mê). Trên những nét cơ bản của các di chỉ này có thể khẳng định là những điểm cư trú của người xưa. Những cư dân cổ xưa ấy đã cư trú cả trên 2 loại địa hình khác nhau, điều kiện khác nhau: địa hình đồi gò, thềm sông, ngoài trời và địa hình núi đá vôi, hang động, mái đá...
Tiếp nối thời Đá cũ, các cộng đồng cư dân cổ trên đất Việt Nam đã bước vào thời đại Đá mới, mở đầu là văn hoá Hoà Bình. Trên đất Hà Giang, các nhà khảo cổ đã phát hiện được ít nhất là 3 di chỉ tiêu biểu cho các giai đoạn của văn hoá Hoà Bình, đánh dấu một bước phát triển văn hoá Sơ kỳ thời đại Đá mới ở miền Việt Bắc, đó là Hang Đán Cúm tiêu biểu cho giai đoạn sớm của văn hoá Hoà Bình có niên đại trên 10.000 năm cách ngày nay. Tiếp đến là di chỉ hang Nà Chảo đại diện cho giai đoạn Hoà Bình phát triển, có tuổi khoảng 9000 đến 10.000 năm cách ngày nay. Hang Khuổi Nấng tiêu biểu cho giai đoạn Hoà Bình muộn có niên đại từ 6000 đến 7.500 năm cách ngày nay. Cư dân văn hoá Hoà Bình ở Hà Giang cũng dùng đá cuội để ghè đẽo, chế tác công cụ, song một đặc điểm nổi bật của kỹ thuật chế tác đá của cư dân thời Hoà Bình ở Hà Giang là xu hướng tiết kiệm ghè đẽo. Có thể nói chủ nhân văn hoá thời đại Đá mới ở Hà Giang, bằng bàn tay và khối óc của mình đã đạt được nhiều thành tựu lớn về kỹ thuật văn hoá, đánh dấu một mốc son quan trọng trong thời kỳ tiền sử ở Việt Nam và Đông Nam á nói chung, thời tiền sử Hà Giang nói riêng.
Nếu như ở giai đoạn Sơ kỳ Đá mới, cư dân cổ Hà Giang chủ yếu cư trú trong hang động, thì bước vào giai đoạn Hậu kỳ Đá mới cách đây 4.000 - 5.000 năm dân cư cổ Hà Giang đã vươn ra cư trú ngoài trời mà địa điểm Lò Gạch (Thanh phố Hà Giang) là một thí dụ. Ngoài địa điểm Lò Gạch, vết tích văn hoá ở giai đoạn này còn thấy ở dọc đôi bờ sông Lô, sông Gâm, sông Miện... ở giai đoạn Hậu kỳ Đá mới cư dân cổ Hà Giang đã có sự phân công lao động mang tính chuyên môn hoá giữa nghề thủ công chế tác đá và làm đồ gốm. Không chỉ làm nghề nông, người cổ Hà Giang lúc bấy giờ còn giỏi nghề chế tác và gốm và họ thật sự có đời sống tinh thần phong phú. Những chiếc khuyên tai, những chiếc vòng tay bằng đá tròn trịa, mài bóng làm đồ trang sức cho con người. Những hoa văn chữ "S" đối xứng trên gốm Lò Gạch là một bằng chứng về sức sáng tạo và hưởng thụ nghệ thuật của cư dân thời cổ ở Hà Giang.
Cho đến nay những di vật thuộc thời đại Kim khí trên đất Hà Giang phát hiện chưa nhiều, song dựa vào những nguồn tài liệu như Trống đồng và các vũ khí cổ bằng sắt được tìm thấy ở 4 khu vực chính là Bắc Mê, Vị Xuyên, Bắc Quang và thành phố Hà Giang... chúng ta cũng có thể nhận thức được phần nào về diện mạo, về lịch sử văn hoá của cư dân ở đây, khi mà vùng đất này đã thực sự trở thành một bộ phận của nước Văn Lang.
Năm 1891 tỉnh Hà Giang chính thức được thành lập. Trong hơn một thế kỷ đấu tranh, xây dựng và phát triển các dân tộc Hà Giang luôn gắn bó, đoàn kết và đùm bọc lẫn nhau để bảo vệ biên cương của Tổ Quốc. Đồng bào các dân tộc Hà Giang đã đồng lòng đánh đuổi Thực dân Pháp, tiễu Phỉ, chống Đế quốc Mỹ và trực tiếp tham gia công cuộc bảo vệ biên giới Tổ Quốc. Những di tích như Tiểu khu cách mạng Trọng Con, xã Bằng Hành (Bắc Quang), Di tích Căng Bắc Mê, những tên tuổi đứng lên làm cuộc khởi nghĩa như Sùng Mí Chảng, anh hùng Sùng Dúng Lù và nhiều anh hùng khác cùng với những thành tựu kinh tế - xã hội của Hà Giang hôm nay là minh chứng cho ngọn lửa cách mạng của các dân tộc Hà Giang.
Tính đến 31/12/2011, trên địa bàn toàn tỉnh có 24 di tích đã được xếp hạng, trong đó có 16 di tích cấp Quốc gia là: Di tích lịch sử cách mạng Tiểu khu Trọng Con (Bắc Quang); Di tích lịch sử Kỳ Đài (Thành phố Hà Giang); Di tích lịch sử cách mạng Căng Bắc Mê, Di tích khảo cổ hang Đán Cúm; Di tích hang Nà Chảo (Bắc Mê); Di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Vương, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cột cờ Lũng Cú, di tích kiến trúc nghệ thuật phố cổ Đồng Văn (Đồng Văn); Di tích Chuông chùa Bình Lâm; Di tích Chùa Sùng Khánh, di tích khảo cổ học Chùa Nậm Dầu (Vị Xuyên); Di tích bãi đá cổ xã Nấm Dẩn, danh lam thắng cảnh Thác Tiên Đèo Gió (Xín Mần); Danh lam thắng cảnh Mã Pì Lèng (Mèo Vạc); Danh lam thắng cảnh Núi Đôi Quản Bạ (Quản Bạ); Danh lam thắng cảnh ruộng bậc thang Hoàng Su Phì.
Các di tích xếp hạng cấp tỉnh bao gồm: Di tích lịch sử Nàn Ma, di tích lịch sử văn hóa đền Thần Hoàng, di tích lịch sử văn hóa Đình Mường (Xín Mần) và Di tích Đền Mẫu (Thành phố Hà Giang); Di tích lịch sử Đền Trần, di tích lịch sử đền Chúa Bà (Bắc Quang); Di tích lịch sử văn hóa đồn Pố Lũng (Hoàng Su Phì); Di tích lịch sử văn hóa Khâu Vai (Mèo Vạc).
Có thể nói, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc ở Hà Giang trong những năm qua rất được quan tâm, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá Hà Giang "tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc".
Với vị thế nằm trong không gian du lịch của miền núi Việt Bắc - một miền đất giàu tiềm năng du lịch với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và các di tích lịch sử văn hoá có giá trị - Hà Giang có 274km đường biên giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), có cửa khẩu Thanh Thuỷ và 4 cặp cửa khẩu tiểu ngạch; khí hậu Hà Giang nhìn chung nằm trong vùng khí hậu ôn đới, quanh năm mát mẻ, không khí trong lành; điều kiện địa chất và địa hình chia cắt mạnh nên tạo cho Hà Giang nhiều sông suối trong đó có nhiều suối nước nóng trữ lượng lớn với hàm lượng khoáng chất cao rất tốt cho sức khoẻ; nhiều thắng cảnh hùng vĩ, ngoạn mục như đỉnh Tây Côn Lĩnh, thác Thúy, thác Bay, Núi Đôi Quản Bạ, cổng trời Quản Bạ, đỉnh Mã Pì Lèng... cùng nhiều hang động với nhiều hình khối, đường nét kỳ lạ, khêu gợi trí tò mò; nhiều ghềnh thác, hang động đẹp... hấp dẫn du khách; rừng tự nhiên của Hà Giang có nhiều nhóm động thực vật phong phú đa dạng. Các loại động vật quý hiếm như Cu li nhỏ, Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lợn, Voọc mũi hếch, Sóc bay sao, Hươu sao, vv. Đây là những loài động vật đưa vào sách đỏ Việt Nam năm 2000 và danh sách các loài cần được bảo vệ. Bên cạnh đó, thảm thực vật rừng Hà Giang có nhiều loài như: Ngũ gia bì hương, Thù du, Thông thảo, Mã đậu linh Quảng Tây, Chu sa liên, Thổ tế tân, Bách vàng, Thông Pà Cò (Thông Quảng Đôn, Thiết sam Đông Bắc, vv.). Đây là những loài thực vật đã được đưa vào Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý, hiếm. Phong cảnh hoang sơ của núi rừng Hà Giang hấp dẫn du khách vào các hoạt động du lịch thể thao. Trong tương lai, Chính phủ có chủ trương xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên loài tại Hà Giang. Đây sẽ là cơ hội cho ngành du lịch Hà Giang mở những tua du lịch sinh thái hấp dẫn du khách.
Trong những năm gần đây, tỉnh Hà Giang đã cố gắng khai thác các tiềm năng, thế mạnh của mình do đó du lịch Hà Giang cũng có bước phát triển mạnh mẽ. Cơ chế chính sách của tỉnh thông thoáng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh mạnh dạn đầu tư và nhanh chóng hoà nhập với kinh tế thị trường. Các khu du lịch, điểm du lịch quy mô lớn như khu nghỉ mát suối nước nóng Thanh Hà... đã được xây dựng. Sau những nỗ lực trên, du lịch Hà Giang đang trên đà khởi sắc, lượng khách đến Hà Giang tìm hiểu thị trường để đầu tư, tham quan du lịch ngày càng nhiều. Đến với Hà Giang du khách có thể đi theo nhiều tuyến du lịch hấp dẫn khác nhau mang đặc thù riêng. Du lịch phía Tây là du lịch sinh thái với cảnh sắc thiên nhiên rừng nguyên sinh, "nơi đầu nguồn sông Chảy với dải Tây Côn Lĩnh hiên ngang"... Đến với các huyện vùng thấp Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên, thành phố Hà Giang bạn sẽ có tour du lịch cộng đồng với những ngôi nhà sàn, những làng văn hoá du lịch đặc trưng, những phong cảnh nên thơ hữu tình uốn lượn bên dòng sông Lô, những đồi chè bát ngát, được thưởng thức những điệu hát then, hát cọi, vv. say đắm lòng người. Du lịch vùng cao phía Bắc, du khách sẽ được sống trong thị trấn vùng sơn cước, khí hậu 4 mùa mát mẻ có thể sánh như Đà Lạt, Sa Pa, với núi Cô Tiên như khuôn ngực trần của người thiếu nữ do thiên nhiên ban tặng căng tròn nhựa sống, sông Nho Quế cùng đỉnh Mã Pì Lèng tạo cảm giác vừa sâu thẳm vừa cao vời vợi và con đường Hạnh Phúc như sợi chỉ nối liền giữa trời và đất được ví là "Đệ nhất hùng quan". Không dừng lại ở đó, du khách còn được tham quan các di tích như di tích Kiến trúc nghệ thuật Nhà Vương, Phố cổ Đồng Văn, được lên cột cờ đỉnh Lũng Cú - "vầng trán kiêu hãnh của Tổ Quốc" và đặc biệt là được đắm chìm trong khung cảnh hùng vĩ của Cao nguyên đá Đồng Văn - Nơi đây được UNESCO công nhận là Công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam và thứ hai khu vực Đông Nam Á (Sau Malaysia).